Quy định bỏ chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ được triển khai theo hướng giảm yêu cầu về văn bằng, chứng chỉ và chuyển trọng tâm sang năng lực thực tế theo vị trí việc làm. Tuy nhiên, chính sách này không áp dụng đồng loạt cho mọi công chức, viên chức. Người dự tuyển cần đối chiếu ngạch, chức danh nghề nghiệp, tiêu chuẩn vị trí việc làm và văn bản pháp luật hiện hành để xác định chính xác yêu cầu.
Quy định bỏ chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ
Bỏ chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ” được hiểu là không còn quy định bắt buộc phải có chứng chỉ Tin học hoặc Ngoại ngữ trong tiêu chuẩn của một số ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức.
Chính sách này được triển khai thông qua quá trình rà soát, sửa đổi tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và tiêu chuẩn ngạch công chức. Từ năm 2021, nhiều Bộ, ngành đã ban hành các thông tư mới nhằm điều chỉnh yêu cầu về chứng chỉ theo hướng chú trọng hơn đến năng lực thực tế và yêu cầu của vị trí việc làm.
Một điểm cần lưu ý là bỏ chứng chỉ không có nghĩa là bỏ hoàn toàn yêu cầu về Tin học và Ngoại ngữ. Tùy từng vị trí, người dự tuyển hoặc đang giữ chức danh vẫn có thể phải đáp ứng yêu cầu về kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin, khả năng sử dụng Ngoại ngữ hoặc năng lực chuyên môn phù hợp.
Quy định đối với công chức chuyên ngành hành chính và văn thư đã được sửa đổi qua Thông tư 02/2021/TT-BNV và các văn bản liên quan. Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật hiện ghi nhận Thông tư này còn hiệu lực một phần, đã được sửa đổi và bãi bỏ một phần trong quá trình áp dụng.
Do đó, khi tìm hiểu thông tin “bỏ chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ”, cần phân biệt:
- Bỏ yêu cầu chứng chỉ: Không còn bắt buộc phải có một chứng chỉ riêng để đáp ứng tiêu chuẩn.
- Vẫn yêu cầu năng lực: Người làm việc vẫn có thể phải sử dụng Tin học, Ngoại ngữ theo yêu cầu công việc.
- Áp dụng theo từng nhóm: Quy định của một ngạch hoặc chức danh không tự động áp dụng cho tất cả công chức, viên chức.
- Cần kiểm tra văn bản hiện hành: Các thông tư chuyên ngành có thể được sửa đổi, thay thế hoặc bãi bỏ theo thời gian.
Những ai được bỏ chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ?
Nhiều nhóm công chức, viên chức đã được sửa đổi tiêu chuẩn theo hướng không còn yêu cầu chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ riêng. Một số nhóm tiêu biểu gồm:
|
Nhóm đối tượng |
Văn bản quy định |
Nội dung |
|
Giáo viên mầm non |
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non được quy định theo hệ thống mới từ năm 2026. Không đặt chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ thành yêu cầu riêng; tập trung vào chuẩn nghề nghiệp và năng lực thực hiện nhiệm vụ. |
|
|
Giáo viên tiểu học |
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học được quy định theo văn bản mới năm 2026; không còn sử dụng TT 02/2021 và của TT 08/2023 làm căn cứ chính. Không đặt chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ riêng trong tiêu chuẩn. |
|
|
Giáo viên THCS |
Thông tư 30/2026/TT-BGDĐT |
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên THCS được quy định theo TT 30/2026; không đặt chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ riêng làm điều kiện. Các quy định cũ tại TT 03/2021 và TT 08/2023 đã được thay thế/bãi bỏ theo quy định mới. |
|
Giáo viên THPT |
Thông tư 30/2026/TT-BGDĐT |
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT được quy định theo TT 30/2026; không đặt chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ riêng làm điều kiện. Các quy định cũ tại TT 04/2021 và TT 08/2023 không còn là căn cứ chính. |
|
Công chức hành chính, văn thư |
Thông tư 02/2021/TT-BNV, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 06/2022/TT-BNV |
Không yêu cầu chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ riêng; yêu cầu được thể hiện qua kỹ năng sử dụng CNTT cơ bản và sử dụng ngoại ngữ theo tiêu chuẩn của ngạch/vị trí việc làm. |
|
Công chức thi hành án dân sự |
Thay thế căn cứ cũ về tiêu chuẩn các ngạch công chức chuyên ngành thi hành án dân sự. Không đặt chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ thành điều kiện riêng; yêu cầu được thể hiện trong tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực của ngạch. |
|
|
Công chức Quản lý thị trường |
Không yêu cầu chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ riêng; tiêu chuẩn tập trung vào trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực phù hợp với từng ngạch công chức. |
|
|
Công chức kế toán, thuế, hải quan, dự trữ |
Thông tư 29/2022/TT-BTC, được sửa đổi, bổ sung một phần bởi Thông tư 66/2024/TT-BTC |
Không yêu cầu chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ riêng trong tiêu chuẩn ngạch; các yêu cầu được thể hiện thông qua tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực của từng ngạch. |
|
Công chức ngành nông nghiệp và PTNT |
Không yêu cầu chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ riêng; tiêu chuẩn ngạch tập trung vào trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực thực hiện nhiệm vụ. |
|
|
Công chức ngành Ngân hàng |
Không yêu cầu chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ riêng trong tiêu chuẩn ngạch. TT 14/2022 vẫn là văn bản quy định mã số, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và xếp lương các ngạch công chức chuyên ngành Ngân hàng. |
|
|
Viên chức di sản văn hóa |
Thông tư 16/2021/TT-BVHTTDL, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 15/2025/TT-BVHTTDL |
Không yêu cầu chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ riêng; áp dụng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp theo TT 16/2021 và các nội dung đã được sửa đổi bởi TT 15/2025. |
|
Viên chức thư viện |
Thông tư 02/2022/TT-BVHTTDL, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 15/2025/TT-BVHTTDL |
Không yêu cầu chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ riêng; tiêu chuẩn chức danh tập trung vào trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực thực hiện nhiệm vụ. TT 02/2022 đã được sửa đổi và bãi bỏ một phần bởi TT 15/2025. |
|
Viên chức CNTT, an toàn thông tin |
Thông tư 08/2022/TT-BTTTT, được bãi bỏ, sửa đổi một phần bởi Thông tư 12/2024/TT-BTTTT |
Không đặt thêm chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ riêng ngoài yêu cầu chuyên môn của chức danh. TT 08/2022 vẫn còn phần quy định được áp dụng; một số nội dung đã bị bãi bỏ bởi TT 12/2024. |
|
Viên chức nông nghiệp và PTNT |
Không yêu cầu chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ riêng; quy định tập trung vào mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, trình độ và năng lực chuyên môn. |
|
|
Viên chức lưu trữ |
Thông tư 07/2022/TT-BNV, được sửa đổi, bãi bỏ một phần bởi Thông tư 05/2024/TT-BNV |
Không yêu cầu chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ riêng. Một số nội dung của TT 07/2022 đã được bãi bỏ bởi TT 05/2024, các nội dung còn lại tiếp tục được áp dụng. |
|
Viên chức trợ giúp viên pháp lý |
Thông tư 05/2022/TT-BTP, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 11/2025/TT-BTP và Thông tư 24/2025/TT-BTP |
Không yêu cầu chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ riêng; tiêu chuẩn chức danh tập trung vào trình độ đào tạo, năng lực chuyên môn và nghiệp vụ. Chuỗi sửa đổi này đã được hợp nhất tại VBHN 3490/VBHN-BTP năm 2026. |
|
Viên chức tài nguyên và môi trường |
Không yêu cầu chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ riêng; tiêu chuẩn chức danh tập trung vào trình độ đào tạo, chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực thực hiện nhiệm vụ. |
|
|
Viên chức thể dục thể thao |
Thông tư 07/2022/TT-BVHTTDL, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 15/2025/TT-BVHTTDL |
Không yêu cầu chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ riêng; áp dụng TT 07/2022 cùng các nội dung sửa đổi tại TT 15/2025. Văn bản hợp nhất 7079/VBHN-BVHTTDL năm 2025 đã phản ánh chuỗi văn bản này. |
|
Viên chức khoa học và công nghệ |
Không dùng TT 14/2022/TT-BKHCN nữa. TT 11/2024 đã thay thế hệ thống quy định cũ, bao gồm TT 14/2022, và quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành khoa học và công nghệ. |
|
|
Viên chức công tác xã hội |
Không yêu cầu chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ riêng; tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp tập trung vào trình độ đào tạo, năng lực chuyên môn và kỹ năng thực hiện công việc. |
|
|
Viên chức giáo vụ |
Không yêu cầu chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ riêng; tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp tập trung vào trình độ đào tạo, năng lực chuyên môn và nghiệp vụ giáo vụ. |
|
|
Viên chức thiết bị, thí nghiệm |
Không yêu cầu chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ riêng; tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp tập trung vào trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực thực hiện nhiệm vụ. |
Câu hỏi thường gặp về bỏ chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ
- Bỏ chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ có áp dụng cho tất cả công chức, viên chức không?
Không. Quy định được triển khai theo từng ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức và văn bản chuyên ngành. Vì vậy, một nhóm được bỏ yêu cầu chứng chỉ không đồng nghĩa mọi công chức, viên chức đều được áp dụng quy định tương tự.
- Bỏ chứng chỉ có nghĩa là không cần trình độ Tin học, Ngoại ngữ?
Không. Việc bỏ chứng chỉ và yêu cầu về năng lực là hai vấn đề khác nhau. Một vị trí có thể không yêu cầu người dự tuyển xuất trình chứng chỉ riêng nhưng vẫn yêu cầu khả năng sử dụng Tin học, Ngoại ngữ phù hợp với công việc.
Công chức kế toán, thuế, hải quan có còn phải có chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ không?
Thông tư 29/2022/TT-BTC đã điều chỉnh tiêu chuẩn các ngạch công chức chuyên ngành kế toán, thuế, hải quan theo hướng bỏ yêu cầu chứng chỉ Ngoại ngữ, Tin học riêng. Khi áp dụng thực tế, vẫn cần kiểm tra yêu cầu năng lực và quy định hiện hành đối với từng ngạch.
- Đã có chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ thì chứng chỉ có còn giá trị không?
Việc một vị trí không còn yêu cầu chứng chỉ không đồng nghĩa chứng chỉ đã được cấp tự động mất giá trị. Cần phân biệt giá trị của chứng chỉ với việc chứng chỉ có còn là điều kiện bắt buộc trong một hồ sơ cụ thể hay không.
- Sinh viên có được bỏ chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ không?
Không thể áp dụng trực tiếp các quy định về công chức, viên chức cho sinh viên. Sinh viên cần phân biệt yêu cầu chứng chỉ khi tuyển dụng với chuẩn đầu ra của cơ sở giáo dục. Nếu trường đại học vẫn quy định chuẩn đầu ra về Ngoại ngữ hoặc Tin học thì sinh viên vẫn phải đáp ứng theo quy chế đào tạo của trường.
- Có cần thi chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ nữa không?
Không có một câu trả lời chung cho mọi trường hợp. Nếu mục đích là hoàn thiện hồ sơ tuyển dụng, bổ nhiệm, nâng ngạch hoặc thăng hạng, người học nên xác định chính xác vị trí và kiểm tra yêu cầu đang áp dụng trước khi đăng ký thi.
- Làm sao biết mình có thuộc diện được bỏ chứng chỉ?
Có thể kiểm tra theo 3 bước:
- Xác định chính xác ngạch công chức hoặc chức danh nghề nghiệp viên chức.
- Kiểm tra văn bản quy định tiêu chuẩn đang áp dụng và tình trạng hiệu lực của văn bản.
- Đối chiếu với thông báo tuyển dụng, yêu cầu bổ nhiệm, nâng ngạch hoặc thăng hạng của trường hợp cụ thể.
Như vậy, thay vì chỉ tìm kiếm thông tin “đã bỏ chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ chưa”, người học nên xác định vị trí của mình đang được điều chỉnh bởi văn bản nào. Đây là căn cứ quan trọng nhất để biết có còn phải đáp ứng chứng chỉ hay chỉ cần đáp ứng yêu cầu về năng lực Tin học, Ngoại ngữ.
Đăng ký nhận thông tin về chứng chỉ tin học TT03/2014 từ các trường được Bộ Giáo dục cấp phép
Nhìn chung, quy định bỏ chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ được triển khai theo hướng giảm yêu cầu về văn bằng, chứng chỉ không cần thiết và chú trọng năng lực thực tế theo từng vị trí việc làm. Tuy nhiên, không phải tất cả công chức, viên chức đều được miễn chứng chỉ trong mọi trường hợp. Người học và người dự tuyển cần căn cứ vào ngạch, chức danh nghề nghiệp, vị trí việc làm và văn bản đang có hiệu lực để xác định yêu cầu cụ thể, tránh áp dụng sai quy định.





